Hoài niệm về Bố
Ánh Tuyết
Màn đêm dần buông, tôi thao thức mãi không ngủ được. Có lẽ vì tách trà đậm buổi chiều làm tôi mất ngủ, trong chăn ấm nệm êm tôi cố dỗ giấc ngủ nhưng mắt vẫn mở lớn nhìn lên trần nhà. Không ngủ được, tôi xuống family room, căn phòng yên lặng, lạnh ngắt, lờ mờ ánh sáng của chiếc đèn đêm gắn trên vách tường. Tôi thèm nhìn ánh lửa tí tách reo vui, ánh lửa ấm nồng trong đêm khuya thăm thẳm. Đêm khuya thinh lặng, tôi nghe rõ tiếng côn trùng rên rỉ sau vườn. Một nỗi buồn len lỏi trong tim khi nhìn ánh lửa đêm khuya, những kỷ niệm êm đềm về Bố nay bỗng trào dâng sống dậy trong lòng.
Bố tôi sinh trưởng trong một gia đình nghèo. Quê Bố ở tận Thái Bình, bên sông Hồng quanh năm nước đỏ phù sa. Bố là con cầu tự vì hai người con đầu là con gái nên ông bà nội tôi muốn có con trai để nối dõi, phụng thờ. Lễ lạy ở Chùa Hương vài lần, bà tôi mang thai sinh ra Bố. Có lẽ là con cầu tự nên Bố tôi đòi đi tu từ nhỏ nhưng ông bà tôi không cho, bảo rằng: “Tuyệt tự là bất hiếu.” Bố đi học ở
Bố thông minh, học giỏi, hay giúp đỡ bạn bè. Đến năm Bố thi đậu bằng Thành Chung, ông bà nội bắt Bố về cưới vợ. Thời ấy trai gái quen nhau trước khi lấy nhau thật hiếm. Qua mai mối, ông bà nội muốn kết thông gia với một gia đình ở làng bên. Cô gái mà ông bà ngấp nghé định rước về làm dâu được người được nết. Khi nghe phải lấy vợ, Bố buồn bỏ ăn cả tuần lễ chẳng nói năng gì với ông bà nội. Bà tôi lo sợ hỏi gặng Bố, Bố bảo rằng chỉ muốn đi tu để thoát kiếp trầm luân. Thấy Bố quyết liệt quá, ông bà đành thôi.
Hai năm sau, trong buổi chợ phiên Bố gặp Mẹ. Thuở ấy mẹ tôi là một thiếu nữ Hà thành về thăm quê ngoại, Mẹ theo vú già ra xem cảnh chợ. Vẻ xinh đẹp, đài các của Mẹ làm Bố ngẩn ngơ... Dọ hỏi mãi biết Mẹ là con của một gia đình khá giả bên kia sông nhưng Mẹ ở Hà Nội, một năm đôi ba lần về thăm quê ngoại. Nhờ bà mối khéo nói, ông bà ngoại tôi bằng lòng gả Mẹ cho Bố. Đám cưới Bố Mẹ tưng bừng vào một sáng mùa xuân, năm chiếc thuyền hoa êm ả khua mái chèo trên dòng sông sang làng Mẹ. Họ đàng trai lụa là tươm tất, trịnh trọng bưng quả lễ sang rước dâu. Chú rể còn nét thư sinh trang nghiêm trong áo gấm xanh, khăn xếp. Niềm vui không dấu được trong ánh mắt khi Bố nhìn Mẹ e ấp đi bên cạnh, hai má đỏ hồng e thẹn. Mẹ mặc áo gấm hồng, dầu vấn khăn nhung, chân đi giầy cườm. Pháo đỏ nổ giòn tan, dân trong làng kéo ra bờ sông xem rước dâu. Nhiều gã trai làng ghen tức trước đám cưới tưng bừng nên xầm xì, mai mỉa:
“Đũa mốc mà chòi mâm son.”
Hay:
“Thương thay hột gạo tám xoan,
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà”
Ý chê Bố quê mùa, nghèo nàn mà dám cưới tiểu thư Hà thành về làm vợ.
Mẹ hiền thục, đảm đang, quán xuyến mọi việc trong gia đình chồng. Từ cô thiếu nữ Hà Nội ăn trắng mặc trơn, nhà có đầy tớ sai bảo chẳng phải động đến một việc gì, nay về gia đình chồng học cày cấy, học trồng dâu, nuôi tằm, dệt cửi... Vì vất cả nắng mưa nên Mẹ mấy lần ốm nặng. Thương con dâu ngoan hiền, chịu khó nên ông bà nội gom góp tậu cho Bố Mẹ một mảnh đất bên đường đê, dựng lên một chòi nhỏ bán nước chè và kẹo bánh vặt vãnh cho dân làng với mong mỏi rằng Mẹ đỡ vất vả và dễ kiếm sống hơn.
Cuộc sống êm ả trôi đi, các anh chị tôi lần lượt ra đời. Thời kỳ Việt Minh nổi lên chống Pháp, Pháp trả thù đem bom đạn tàn phá dân làng. Chiến tranh lan rộng, tình cảnh dân làng thật khốn khổ. Họ bỏ làng xã đi tản cư. Bố Mẹ mang bầy con lên Hải Phòng. Tưởng là yên thân trên đất Hải Phòng nhưng khi hiệp định Geneve vừa ký kết, dân miền Bắc ùn ùn di cư vào miền
Vào miền
Khi tôi có trí khôn, nhiều đêm giật mình thức giấc, tôi thấy Bố còn ngồi bên bếp lửa, củi đã gần tàn, tiếng gà gáy xa xa... Bố gục đầu im lặng trong đêm. Không biết Bố nghĩ gì nhưng tôi mường tượng ra Bố có niềm u ẩn nào đó mà không thể giải bầy cùng ai. Bố hay làm thơ về quê hương và tình yêu tha thiết cho đất Bắc. Bố ngâm Tao Đàn với niềm mong ước hồi hương để sống những ngày còn lại trong đời phụng dưỡng cha mẹ. Tôi đong được nước mắt của Bố qua lời thơ xót xa hoài niệm, lời thơ ân tình thương xót người thân còn ở lại bên kia vĩ tuyến sống lầm than dưới sự cùm kẹp của bầy sói lang Cộng Sản. Tôi thông cảm được nỗi trăn trở của một người con không làm tròn được ước vọng và bổn phận của mình.
Bố ơi! Bây giờ con ngồi trong bóng đêm bên lò sưởi như Bố khi xưa. Con xót xa cho quê hương mình muôn đời đau khổ. Con đã chạy thoát khỏi Cộng sản đến hai lần. Con yêu đất nước mình nhưng chẳng thể sống chung với loài lang sói. Con có nỗi buồn phải làm một kẻ lưu vong và chịu nhiều cái khác biệt trên vùng đất mới. Mặc dầu tự do, no ấm nhưng những điều này chưa lấp hết được khoảng trống trong lòng, những u ẩn như Bố khi xưa. Một đôi khi thao thức như đêm nay, một mình đối diện với thăm thẳm của lòng mình, con biết rằng nỗi khắc khoải riêng mình, chỉ tự mình hiểu lấy mình mà thôi. Đêm trôi lặng lẽ trong triền miên hoài niệm, tôi thương Bố vì cả đời Bố ngâm thơ, lới thơ buồn man mác. Khi tôi hỏi về ý nghĩa bài thơ, Bố nắm chặt tay tôi mơ màng nói:
“Hết chiến tranh Bố sẽ đưa con về quê nội.”
Ước vọng Bố chưa được thỏa nguyện thì Bố đã ra đi nhưng khi nghĩ đến có nhiều người bỏ nước lưu vong, xác thân thác gởi xứ người mà hồn vẫn vọng về quê cũ. Có lẽ trong lòng đất ấm, dù trong
Ánh Tuyết
No comments:
Post a Comment