Anh Thoòng
Ánh Tuyết
Xóm tôi là một xóm nhỏ. Ngoài những gia đình người Việt còn có một số gia đình người Hoa sinh sống. Những người Hoa này mà thời ông bà, cha mẹ họ sang Việt Nam lập nghiệp vì bên Tàu đông dân, cuộc sống kinh tế khó khăn nên họ phải tha hương cầu thực.
Hồi nhỏ tôi và đám trẻ con trong xóm thích chọc phá những người Hoa này vì họ hiền. Chúng tôi nhái giọng phát âm tiếng Viẹt lơ lớ của họ rồi cười rũ rượi thì họ chỉ im lặng chịu đựng hoặc cười bẽn lẽn. Chưa bao giờ họ tỏ vẻ tức giận hay la rầy bọn trẻ con quấy phá như chúng tôi.
Nhà chú Phò ở cuối xóm. Chú bán bò bía. Hàng ngày chú đẩy xe bò bía đến cửa trường học để bán cho học trò và cho khách qua lại. Thím Phò là người đàn bà Trung Hoa vóc người nhỏ bé và hiền hậu. Mấy người trong xóm không mấy khi gọi là chú Phò hay thím Phò mà cứ gọi là Chú Ba Tầu hay thím Xẩm thế mà họ vẫn lặng yên chẳng đính chính gì. Thím Phò làm việc cả ngày. Từ việc nhà như nấu cơm, đi chợ, giặt gĩu thím còn phải đi làm thuê trong xóm. Nhà nào có việc cứ gọi thím là thím sẵn sàng làm ngay. Khi thì trông con cho vợ chồng chú Hai Công Chức đi “đăng xinh” cuối tuần, khi thì đến lau rửa, tắm gội, đút cháo cho cụ Phúc nằm liệt giường mà đôi lúc con cháu cụ bận rộn không chăm sóc được. Lúc thì thím Phò gánh gạch, phụ hồ cho bác Toan thợ xây khi bác ấy nhận xây cất hoặc sửa chữa cho bất cứ nhà nào. Nói chung công việc nào thím Phò cũng làm. Ai sai gì làm đó. Cuối ngày thím mang số tiền nhỏ nhoi về phụ chồng nuôi đàn con đông như bầy gà con. Vì sinh năm một nên thím luôn bận bịu với con nhỏ. Trong khi làm việc nhà, lưng thím vẫn phải địu đứa con nhỏ. Đứa bé đầu cạo trọc chỉ chừa chỏm tóc ở mỏ ác cứ say sưa ngủ và chỉ ngọ ngọe khóc trong bao vải sau lưng thím khi nó thức giấc.
Đứa con trai lớn nhất của vợ chồng chú Phò là anh Thoòng. Năm ấy anh Thoòng chừng mưới sáu tuổi. Anh cao, gầy hay mặc áo thun trắng với quần xà loỏn. Anh Thoòng chỉ mặc quần dài khi thay cha đứng bán bò bía. Anh hiền lắm, anh vừa học xong lớp đệ Tứ thì phải nghỉ học ở nhà phụ gia đình. Gia đình anh đông người, lo ăn chưa đủ thì nào nghĩ đến đi học. Vả lại người Hoa có máu kinh doanh. Họ có năng khiếu về thương mãi hơn là làm những ngành nghề khác trong xã hội. Thượng vàng, hạ cám, họ buôn bán đủ loại và thành công rất nhiều. Trong buôn bán, giao dịch họ lấy chữ tín làm tôn chỉ.
Anh Thoòng thay cha đứng bán bò bía vào buổi chiều. Giờ ra chơi, tôi và đám bạn xúm quanh xe bò bía của anh hay la cà bên xe đậu đỏ, bánh lọt của thím Xồi hoặc vây quanh mẹt me ngào đường, ổi, cóc của bác Hòa ở sân trường. Tôi thích ăn bò bía. Đó là món ruột của tôi. Tiền mẹ cho đi học ăn quà một đồng mỗi ngày. Một đồng chỉ mua được một cái bò bía, ăn loáng là hết ngay mà vẫn còn thèm. Anh Thoòng biết tôi muốn ăn thêm nhưng túi tiền có giới hạn nên đôi lúc anh nhìn tôi ái ngại. Anh luôn thêm tôm khô, trứng và một miếng lạp xưởng mỏng dính vào cuốn bò bía của tôi. Có hôm thấy tôi còn thèm, không ngần ngại anh nhanh tay cuốn thêm cho tôi một cái đặc biệt nữa.
“Ngộ pán dzẻ cho lị đó. Hầy! Cái lày ngộ không tính tiền.”
Ngạc nhiên và thích thú, tôi ngấu nghiến ăn hết. Tôi cảm ơn anh rồi ôm cặp về nhà.
Anh Thoòng cứ bán rẻ cho tôi như vậy nhiều lần. Tôi tỉnh bơ thưởng thức những cuốn bò bía đặc biệt chấm vào tương ớt ngon hết xẩy! Tôi coi chuyện anh Thoòng bán rẻ cho tôi một đồng hai, ba cuốn bò bía đặc biệt là chuyện thường. Anh Thoòng cuốn bò bía rất nhanh và đẹp. Khi khách hàng đông, anh làm nhanh thoăn thoắt đáp ứng được nhu cầu của khách. Vắng khách, anh lấy sách ra đọc. Anh dành dụm tiền mua sách giáo khoa của lớp đệ tam, đệ nhị… để tự học thêm. Anh hiếu học nhưng hoàn cảnh gia đình anh không cho phép.
Có lần anh Thoòng thấy một viên thiếu úy Không Quân đi vào xóm. Hoa mai vàng chóe trên ve áo. Bộ áo liền quần làm cho người đó như to, cao, oai phong hơn. Anh chàng này là bồ của chị Phượng con bác Ba ở kế nhà tôi. Anh Thoòng trầm trồ:
“Hầy, ông thiếu úy lày oai quá, lẹp trai nữa.”
Rồi anh lẩm bẩm:
“Chừng nào mình mới lược như dzậy?”
Mí mắt anh như xụp xuống. Mặt anh buồn xo. Anh Thoòng muốn được đi học. Có lẽ anh muốn tiến thân bằng học vấn và gia nhập vào Không Quân chứ không phải tháng ngày miệt mài bên xe bò bía như là cha của anh.
* * *
Tháng ngày nhẹ trôi. Anh Thoòng vẫn thay cha đứng bán bò bía. Hôm đó tôi thấy anh Thoòng buồn. Tay anh hờ hững cuốn những cuộn bò bía. Làm việc mà tâm trí anh để đâu đâu. Anh có chuyện gì buồn? Anh có chuyện gì lo? Hay tâm tư của một đứa con trai mới lớn thay đổi như nắng, như mưa; vui, buồn bất chợt?
Anh đặt vào dĩa bốn cuộn bò bía đặc biệt và đưa cho tôi:
“Cái lày ngộ không lấy tiền. Lị không phải trả tiền. Ngộ piếu lị ló!”
Tôi im lặng. Sao anh Thoòng đối với tôi quá đặc biệt? Tôi là một trong đám trẻ con trong xóm hay chọc phá, bắt nạt mấy đứa em của anh và hay nhái giọng của người Hoa. Anh Thoòng không ghét tôi sao? Anh kéo tôi sát bên cạnh anh, đưa tay vuốt tóc tôi anh khẽ nói:
“Ngày mai ngộ đi lính dzồi.. Lị ở nhà dzáng học giỏi. Mai mốt lấy chồng cho ngộ piết lể ngộ mừng. Nhớ lấy ông lào piết lái máy pay như pồ cô Phượng ló!” Mặt anh chợt đỏ lên, anh nói như trong hơi thở: “Ngộ ái lị!”
Tôi giật mình và vô cùng tức giận vì anh Thoòng dám nói như vậy. Tôi đủ khôn để nhận biết rằng anh Thoòng tỏ tình với mình trước khi vào lính. Tôi ghét anh Thoòng. Vùng vằng tôi bỏ chạy về nhà. Tôi thầm mong anh Thoòng đừng bao giờ trở về xóm này nữa.
Anh Thoòng đi lính, tôi không còn dịp ăn bò bía “bán rẻ” của anh nữa. Tuổi thơ và những trò chơi làm tôi quên hẳn anh cho đến một ngày nhà anh đông đúc người. Chiếc đèn lồng màu đen treo trước cửa nhà. Anh Thoòng trở về im lìm trong quan tài phủ cờ vàng. Những người lính trang nghiêm trong bộ quân phục giơ tay chào trước linh cữu anh. Thím Phò khóc ngất. Hàng xóm đến giúp xé những mảnh vải trắng cuốn vào đầu mấy đứa em anh. Chú Phò già xọm đi, cố nén tiếng nấc trong lồng ngực. Mặt chú như thêm nhiều nếp nhăn. Hai mắt trũng sâu đau đớn chú nhìn quan tài đứa con. Chú cố giữ bình tĩnh để chu toàn tang lễ của anh Thoòng.
Tiếng kèn đám ma ai oán, tiếng khóc tỉ tê, mùi hương trầm ngào ngạt quyện với mùi hoa. Tiếng người ồn ào làm tôi choáng váng khi theo chân mẹ tôi bước vào nhà anh. Chờ mẹ thắp hương xong, tôi tiến đến bàn thờ anh đặt trước linh cữu. Tôi đốt ba nén hương. Khói hương lung linh. Đôi mắt một mí mở lớn, sống mũi cao thẳng, đôi môi đầy đặn của anh Thoòng trên di ảnh như đang mấp máy nói với tôi những điều mơ ước trước ngày anh vào lính. Anh đã ra người thiên cổ! Nước mắt tôi tràn ra thương xót anh.
Điều bức xúc và niềm mơ ước của anh Thoòng mà anh thổ lộ với tôi lần cuối như một lời nguyền. Tôi chợt hiểu những điều ấy khi trở thành nàng dâu Không Quân. Có lẽ ở bên kia thế giới linh hồn anh đã chắp cánh bay trong niềm toại nguyện.
Ánh Tuyết
Tuesday, November 25, 2008
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment